Thực hiện Quy chế làm việc của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành kèm theo Quyết định số 2092/QĐ-BTNMT ngày 20 tháng 10 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; căn cứ Công văn số 4375/BTNMT-VP ngày 18 tháng 11 năm 2009 của Bộ về tổ chức tổng kết công tác năm 2009, Cục Khí tượng Thuỷ văn và Biến đổi khí hậu báo cáo tổng kết năm 2009 và kế hoạch nhiệm vụ công tác năm 2010 với những nội dung sau:
PHẦN I. KẾT QUẢ CÔNG TÁC NĂM 2009
I. Bối cảnh công tác năm 2009
1. Trong nước
Nhiều sự kiện quan trọng có liên quan ở trong nước đã tác động tới công tác quản lý nhà nước của Cục. Cụ thể như Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2009 về một số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường; năm 2009 là năm khởi động Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, nhu cầu nhận thức của xã hội, các cấp, các ngành, các địa phương về biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu ngày càng tăng; yêu cầu đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực KTTV, biến đổi khí hậu, cảnh báo, dự báo thiên tai trước những diễn biến bất thường, cực đoan của thời tiết ngày càng cấp thiết.
Từ đầu năm 2009 đến nay, Cục luôn được Lãnh đạo Bộ quan tâm chỉ đạo sát sao, tạo điều kiện thuận lợi tối đa trong các hoạt động thông qua đảm bảo nguồn lực cán bộ, kinh phí, các chủ trương, cơ chế chính sách cụ thể.
2. Quốc tế
Năm 2009 đánh dấu nỗ lực của quốc tế trong việc tham gia ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu. Việt Nam được xác định thuộc số các quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ biến đổi khí hậu. Theo đó, nhiều hoạt động hợp tác song phương, đa phương của quốc tế nhằm hỗ trợ cho Việt Nam đã và đang được triển khai dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Vấn đề quản lý và giảm thiểu rủi ro do thiên tai gây ra đang được cộng đồng quốc tế chú ý đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.
II. Kết quả công tác
1. Công tác xây dựng thể chế, chính sách, chiến lược
- Cục đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan xây dựng Chiến lược phát triển Ngành KTTV đến năm 2020 và Đề án hiện đại hóa ngành KTTV đến năm 2015. Hiện dự thảo Chiến lược đã được trình Thủ tướng Chính phủ; dự thảo Đề án đang xin ý kiến các Bộ, ngành liên quan trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
- Đã trình và được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định ban hành Quy chế thông tin cảnh báo, dự báo thiên tai trên biển.
- Phối hợp với Trung tâm KTTV Quốc gia đang triển khai xây dựng, soạn thảo 09 dự thảo văn bản của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường liên quan tới các quy trình, quy chuẩn kỹ thuật phục vụ điều tra cơ bản, tăng cường chất lượng công tác dự báo KTTV.
- Triển khai thực hiện đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng Đề án 30 về đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước của Cục; phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan hoàn chỉnh dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 10/2006/TT-BTNMT ngày 12 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn xây dựng dự án Cơ chế phát triển sạch trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto (dự kiến trình Bộ trưởng xem xét quyết định trong tháng 11 năm 2009).
- Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về lĩnh vực khí tượng thuỷ văn, cảnh báo, dự báo thiên tai và biến đổi khí hậu, phạm vi tuyên truyền được triển khai đến các địa phưong cấp xã.
2. Công tác thanh tra, kiểm tra
Đây là nhiệm vụ trọng tâm được Cục chú trọng thực hiện năm 2009. Bên cạnh kế hoạch thanh tra, kiểm tra được Bộ phê duyệt, trong quá trình triển khai các nhiệm vụ chuyên môn, các đơn vị thuộc Cục đều chú ý kết hợp bố trí nguồn lực thỏa đáng dành cho công tác kiểm tra trên phạm vi cả nước.
Trong năm 2009, Cục đã phối hợp với Thanh tra Bộ thanh tra 01 cuộc tại Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Tây Nguyên (trong đó có 02 trạm khí tượng (Liên Khương, An Khê), 01 trạm thủy văn (An Khê) và 05 Trung tâm KTTV tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng) và công trình thuỷ điện sông Hinh; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức 02 cuộc kiểm tra việc thực hiện Quy chế báo áp thấp nhiệt đớí, bão, lũ, Quy chế báo tin động đất, cảnh báo sóng thần và việc chấp hành các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực khí tượng thuỷ văn tại Sơn La, Điện Biên; tại miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ (Đà Nẵng, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Đắc Nông, TP. Hồ Chí Minh, Cà Mau, Kiên Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu); kiểm tra Dự án “Thu hồi và sử dụng khí đồng hành mỏ Rạng Đông” theo Cơ chế phát triển sạch (CDM) tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dự án "Tái chế khí bãi chôn lấp Đông Thạnh", Dự án "Thu khí bãi chôn lấp hợp vệ sinh Phước Hiệp 1" theo CDM tại TP. Hồ Chí Minh; Dự án “Khôi phục Nhà máy Thủy điện nhỏ Sông Mực” theo Cơ chế phát triển sạch (CDM) tại tỉnh Thanh Hóa; dự án thuỷ điện Chiềng Công, Sơn La.
Thông qua thanh tra, kiểm tra, các vướng mắc của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp được kịp thời phản ánh và trình cấp có thẩm quyền xem xét, tháo gỡ.
3. Công tác chuyên môn
a) Lĩnh vực khí tượng thủy văn
Cục đã triển khai rà soát chương trình xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật ngành KTTV giai đoạn 2008-2011; hoàn thiện đề cương Đề án Nâng cao năng lực dự báo KTTV 2009-2011; rà soát các trạm KTTV vùng biên giới thuộc hệ thống sông Mê Công; tổ chức một số Hội thảo về chuyên môn trong lĩnh vực khí tượng thủy văn để xây dựng Đề án đổi mới ngành KTTV đến năm 2015 và Đề án hiện đại hoá công nghệ dự báo và mạng lưới quan trắc khí tượng thuỷ văn đến năm 2012.
Đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2020; trình Bộ việc thành lập, di chuyển, nâng cấp, hạ cấp, giải thể một số trạm khí tượng thuỷ văn; trình Bộ xem xét quyết định đối với một số thiết kế xây dựng của các địa phương, doanh nghiệp liên quan tới bảo vệ hành lang an toàn kỹ thuật các trạm KTTV; tham gia góp ý 56 dự án đầu tư phát triển, quy hoạch tổng thể của các Bộ, ngành, địa phương về KTTV; rà soát, theo dõi các trạm KTTV đã bị vi phạm hành lang an toàn kỹ thuật (HLATKT) nghiêm trọng sẽ phải di chuyển, chủ động đề xuất kế hoạch phối hợp với UBND và sở, ban, ngành của các địa phương giải quyết tình trạng vi phạm HLATKT trạm KTTV v.v...
b) Lĩnh vực cảnh báo, dự báo thiên tai
- Tổ chức tiếp nhận, thử nghiệm cảnh báo sóng thần từ Trung tâm Cảnh báo sóng thần Tây bắc Thái Bình Dương.
- Đã trình và được Thủ tướng Chính phủ đồng ý đưa 25 kịch bản cảnh báo sóng thần vào ứng dụng tại các tỉnh ven biển Việt Nam.
- Theo dõi chặt chẽ tình hình thiên tai trên phạm vi cả nước qua các bản tin dự báo, các báo cáo của các đơn vị thuộc Trung tâm KTTV quốc gia và qua các phương tiện thông tin đại chúng; trình Bộ kịp thời ban hành các văn bản liên quan tới chỉ đạo, điều hành công tác phòng chống thiên tai, như các Công điện chỉ đạo công tác phòng, chống, đối phó với bão, lũ v.v...
c) Lĩnh vực biến đổi khí hậu
- Triển khai các hoạt động liên quan đến Việt Nam chuẩn bị Thông báo quốc gia lần thứ hai cho Công ước khung của LHQ về BĐKH; các hoạt động nhằm tăng cường năng lực thực hiện Nghị định thư Montreal tại Việt Nam; tích cực tham gia các hoạt động chuẩn bị cho đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị lần thứ 21 các Bên tham gia Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn tổ chức tại Ai Cập; đoàn đại biểu cấp cao của Chính phủ tham gia Hội nghị Thượng đỉnh về Biến đổi Khí hậu lần thứ 15 (COP) diễn ra tại Copenhagen, Đan Mạch, từ 7-18 tháng 12 năm 2009.
- Thẩm định và trình Bộ cấp 25 thư xác nhận tài liệu ý tưởng dự án (PIN); 104 thư phê duyệt văn kiện thiết kế dự án (PDD) đồng thời tổ chức kiểm tra, giám sát việc triển khai các dự án theo cơ chế phát triển sạch; xác nhận 28 đăng ký nhập khẩu, xuất khẩu các chất làm suy giảm tầng ô dôn; thực hiện điều tra lượng và lĩnh vực sử dụng các chất hydro-chlorofluorocarbons (HCFC) trên toàn quốc, chuẩn bị cơ sở dữ liệu cho việc phối hợp với Ngân hàng Thế giới xây dựng các các dự án loại trừ HCFC ở Việt Nam.
- Phục vụ hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto. Thông qua kết quả hoạt động của Ban Chỉ đạo, trong năm 2009, đã có 9 dự án được quốc tế công nhận là dự án CDM.
d) Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH
- Thành lập Văn phòng Chương trình MTQG và ban hành Quy chế hoạt động của Văn phòng;
- Tổ chức cuộc họp của Ban Chủ nhiệm Chương trình về kế hoạch triển khai năm 2010 của Chương trình và thông qua một số vấn đề thuộc thẩm quyền của Ban Chủ nhiệm;
- Phối hợp xây dựng Dự thảo Thông tư Liên lịch hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình, chờ ý kiến chính thức của các Bộ liên quan để ban hành;
- Thẩm định và trình để công bố các kịch bản biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng cho Việt Nam làm định hướng ban đầu để các Bộ, ngành, địa phương đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến từng lĩnh vực và xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Phối hợp xây dựng và ban hành Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của các Bộ, ngành và các địa phương;
- Triển khai xây dựng Chương trình giám sát, đánh giá Chương trình (đang cùng với các chuyên gia tư vấn đi điều tra tại 2 địa phương thí điểm);
- Báo cáo Thủ tướng về kế hoạch tổ chức cuộc họp của Ban Chỉ đạo quốc gia vào tháng 11/2009 và kế hoạch thành lập Ban Cố vấn của Thủ tướng trong lĩnh vực biến đổi khí hậu; về Đề án Đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị lần thứ 15 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu được tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch vào đầu tháng 12 tới.
4. Công tác khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế
- Phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ xây dựng định hướng nghiên cứu khoa học công nghệ KTTV trong các năm tới; xác định các nhu cầu về khoa học và công nghệ trong các đề án, dự án về hiện đại hóa ngành Khí tượng Thủy văn; xu hướng phát triển khoa học phục vụ ngành Khí tượng Thủy văn, công nghệ quan trắc (tại chỗ và từ xa), công nghệ truyền tin và dự báo đặc biệt là đối với dự báo các hiện tượng KTTV nguy hiểm; tham gia định hướng nghiên cứu khoa học và áp dụng công nghệ đối với Chương trình khoa học và công nghệ về biến đổi khí hậu.
- Trong năm 2009, công tác hợp tác quốc tế được Cục đặc biệt chú trọng. Một số hoạt động tiêu biểu như Cục đã chủ trì, tham gia phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ thực hiện nội dung chuẩn bị trao đổi trong hợp tác với Philipin, Liên bang Nga, Trung Quốc, Australia; triển khai Bản ghi nhớ giữa Cục và Cơ quan Khí tượng Philipin về hợp tác trong lĩnh vực Khí tượng Thuỷ văn biển; tiếp và làm việc với nhiều đoàn của các cơ quan, tổ chức quốc tế về các vấn đề liên quan tới biến đổi khí hậu, phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai.
5. Công tác kế hoạch tài chính, tổ chức cán bộ, hành chính
5.1. Công tác kế hoạch tài chính
Công tác kế hoạch tài chính được thực hiện theo tháng, quý của các nhiệm vụ được giao năm 2009. Tất cả các nhiệm vụ Bộ giao năm 2009 đều được thẩm định, phê duyệt đề cương và dự toán theo đúng quy trình và tiến độ; đề xuất với Bộ nội dung, kinh phí các nhiệm vụ dự kiến triển khai trong năm 2010. Qua đánh giá khẳng định, năm 2009, công tác quản lý, sử dụng ngân sách của Cục luôn đảm bảo thực hiện đúng quy định.
5.2. Công tác tổ chức cán bộ
Trong năm, Cục đã xây dựng xong quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý của Cục giai đoạn 2009 – 2011 và giai đoạn 2011- 2015, ban hành tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc Cục; từng bước hoàn chỉnh tổ chức bộ máy của các đơn vị thuộc Cục (thành lập Trung tâm Bảo vệ tầng ô-zôn; triển khai thành lập Trung tâm Dữ liệu, truyền thông cảnh báo thiên tai; từng bước hoàn chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị tham mưu quản lý nhà nước của Cục); thực hiện chế độ chính sách đầy đủ đối với cán bộ, công chức, người lao động trực thuộc.
Tiếp nhận và bố trí 7 công chức dự bị về công tác tại các đơn vị thuộc Cục; tham gia đợt thi tuyển công chức, công chức dự bị năm 2009 của Bộ (đăng ký tuyển dụng thêm 8 chỉ tiêu biên chế công chức dự bị).
Tổ chức tập huấn, đào tạo bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, các nội dung chuyên môn liên quan tới các lĩnh vực quản lý nhà nước của Cục cho các Bộ, ngành, địa phương, như phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam tập huấn bồi dưỡng kiến thức về phòng, chống thiên tai cho phóng viên báo, đài, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ tập huấn kiến thức về biến đổi khí hậu cho các địa phương, phối hợp với Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường tập huấn kiến thức QLNN về KTTV, BĐKH, cảnh báo, dự báo thiên tai cho 100 người thuộc các Trung tâm khí tượng thuỷ văn cấp tỉnh, một số đơn vị liên quan trong Ngành; tham gia với các đơn vị thuộc Bộ tổ chức nhiều buổi giới thiệu về biến đổi khí hậu; cử trên 30 lượt cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền đi công tác nước ngoài tham gia các khoá đào tạo, tập huấn, hội nghị, hội thảo về các lĩnh vực liên quan tới phạm vi quản lý nhà nước của Cục v.v...
Đã tổ chức Hội nghị đánh giá năm 2009 đối với Thủ trưởng, lãnh đạo và toàn bộ cán bộ, công chức, viên chức trực thuộc Cục theo hướng thực chất, khách quan, khoa học và đảm bảo đúng quy trình hướng dẫn của Bộ.
5.3. Công tác hành chính quản trị
Năm 2009, công tác hành chính quản trị của Cục đã đi vào nề nếp, ổn định trong điều kiện gặp nhiều khó khăn về trụ sở làm việc. Các văn bản phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý của Cục được khẩn trương xây dựng và ban hành, cụ thể như Quy chế văn hoá công sở, công tác an ninh, quốc phòng, bảo vệ nội bộ, chế độ văn thư, lưu trữ, quản trị văn phòng luôn được đảm bảo theo đúng quy định hiện hành.
Phần II. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Ưu điểm
Trong năm 2009, công tác quản lý nhà nước của Cục đã được ưu tiên tập trung triển khai thực hiện. Nhiều công việc liên quan tới chức năng quản lý nhà nước của Cục tại địa phương, cơ sở, ngành được kịp thời giải quyết và từng bước được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.
Tập thể lãnh đạo Cục, các đơn vị thuộc Cục và toàn thể cán bộ, công chức, viên chức đã từng bước xác lập định hướng đúng đắn trong nhiệm vụ chủ yếu của Cục là tập trung vào chức năng tham mưu giúp Bộ quản lý nhà nước đối với lĩnh vực KTTV, BĐKH, cảnh báo, dự báo thiên tai đối với toàn ngành trong phạm vi toàn quốc.
Chất lượng công tác của từng cán bộ, công chức, viên chức trong Cục cơ bản được nâng lên so với thời gian năm 2008; kỷ luật, kỷ cương hành chính trong Cục được tăng cường.
Khái quát chung, Cục đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ công tác năm 2009, qua đó đóng góp tích cực vào công tác QLNN chung của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với toàn ngành trên phạm vi cả nước.
2. Hạn chế
Bên cạnh một số ưu điểm chính nêu trên, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác chung của Cục, đó là:
- Tính sáng tạo, chủ động tham mưu đề xuất trong công tác chưa cao; tình trạng ỷ lại, thụ động chờ giao việc hoặc chỉ khi được đôn đốc, nhắc nhở mới đảm bảo tiến độ, chất lượng công việc vẫn còn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thuộc Cục.
- Chất lượng soạn thảo văn bản chưa đều giữa các công chức, viên chức, giữa các đơn vị trong Cục; kỷ luật lao động của cơ quan nhìn chung vẫn chưa duy trì tốt, còn diễn ra tình trạng đi muộn, về sớm, sử dụng chưa hiệu quả thời gian làm việc tại cơ quan ở một bộ phận cán bộ, công chức.
- Tính liên thông, kết nối trong hoạt động của các lĩnh vực chuyên môn thuộc Cục chưa có sự gắn kết tương xứng với tổng thể chức năng, nhiệm vụ QLNN chung của Cục.
3. Nguyên nhân
Nguyên nhân chủ yếu của các tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ:
- Nhận thức, tư duy về quản lý nhà nước trong điều kiện mới vẫn chưa đồng đều trong đội ngũ cán bộ, công chức của Cục.
- Số lượng và chất lượng cán bộ, công chức, viên chức của Cục nhìn chung vẫn chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ, công chức thuộc Cục, đặc biệt là các cán bộ quản lý do tập trung giải quyết quá nhiều công việc đột xuất, sự vụ nên chưa dành được nhiều thời gian thoả đáng để đầu tư nghiên cứu, tham mưu giúp Cục trình Bộ những công việc mang tính chất ‘dài hơi’, đúng tầm vĩ mô liên quan tới tổng thể phát triển, đổi mới ngành cũng như từng lĩnh vực công tác được giao.
- Cơ sở vật chất của Cục quá thiếu, diện tích phòng làm việc chật, hẹp đã phần nào ảnh hưởng tới chất lượng, hiệu quả công việc. Hiện trạng diện tích của Cục không bố trí đủ chỗ ngồi cho cán bộ, công chức, viên chức các đơn vị trực thuộc, kể cả đối với các chuyên gia quốc tế làm việc tại Cục theo thỏa thuận trong Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với một số quốc gia có liên quan.
PHẦN III. PHƯƠNG HƯỚNG CÔNG TÁC NĂM 2010
I. Định hướng công tác chỉ đạo, điều hành
Trong năm 2010, định hướng giải pháp cụ thể chỉ đạo, điều hành triển khai thực hiện các nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục được xác định như sau:
- Nâng cao công tác điều tra cơ bản về khí tượng thuỷ văn, phục vụ kịp thời và đầu đủ cho công tác dự báo khí tượng thuỷ văn và phát triển kinh tế - xã hội.
- Nâng cao chất lượng dự báo và cung cấp thông tin dự báo kịp thời phục vụ công tác phòng, chống thiên tai.
- Triển khai đạt hiệu lực, hiệu quả kế hoạch năm 2010 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
II. Các nhiệm vụ trọng tâm
Năm 2010, Cục xác định tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách về kinh tế và xã hội hóa hoạt động khí tượng, thủy văn, dự báo và cảnh báo thiên tai, tích hợp, lồng ghép trong quá trình xây dựng Luật Khí tượng Thủy văn và các văn bản quy phạm pháp luật khác của Ngành. Trong đó, ưu tiên một số nhiệm vụ cụ thể sau:
1. Tiếp tục tham mưu trình cấp có thẩm quyền hoàn thiện thể chế, chính sách thuộc lĩnh vực KTTV, biến đổi khí hậu, cảnh báo, dự báo thiên tai. Xây dựng kế hoạch thực hiện Chiến lược Phát triển ngành KTTV đến năm 2020 sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; phối hợp cùng các đơn vị thuộc Bộ khẩn trương triển khai các nhiệm vụ quy định trong Đề án hiện đại hoá ngành KTTV đến năm 2015 sau khi được duyệt.
2. Hướng dẫn các địa phương hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ để thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu giúp chính quyền địa phương các cấp trong QLNN các lĩnh vực KTTV, biến đổi khí hậu, cảnh báo, dự báo thiên tai.
3. Triển khai xây dựng dự án Luật Khí tượng Thủy văn, đảm bảo tiến độ theo kế hoạch trình Chính phủ trình Quốc hội xem xét vào cuối năm 2011. Bên cạnh nhiệm vụ xây dựng Luật, Cục chủ trương tập trung về công tác quản lý nhà nước lĩnh vực khí tượng thuỷ văn thông qua các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu xây dựng Quy hoạch ra đa thời tiết; theo dõi việc triển khai Quy hoạch mạng lưới trạm khí tượng thủy văn đến năm 2020.
- Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra góp phần giải quyết các vấn đề liên quan đến: vi phạm hành lang an toàn kỹ thuật trạm khí tượng thủy văn; thành lập, di chuyển, nâng cấp, hạ cấp, giải thể trạm khí tượng thủy văn.
4. Tiếp tục theo dõi chặt chẽ, tham mưu kịp thời cấp có thẩm quyền xử lý, giải quyết hiệu quả tình hình thiên tai trên phạm vi cả nước. Một số nhiệm vụ trọng tâm liên quan tới công tác cảnh báo, dự báo thiên tai của Cục là:
- Phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quy chế báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ; ban hành “Quy định lại cấp báo động lũ trên các sông chính của Việt Nam”.
- Triển khai thực hiện đề án “Xây dựng hệ thống tháp báo thiên tai ven biển”.
- Xây dựng hướng dẫn Quy chế báo tin động đất, cảnh báo sóng thần và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định phụ cấp ưu đãi đối với cán bộ, công chức thực hiện công tác báo tin động đất, cảnh báo sóng thần.
- Phối hợp với Ủy ban quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn triển khai diễn tập về phòng, tránh động đất, sóng thần.
5. Bảo đảm các hoạt động thi hành UNFCCC và Nghị định thư Kyoto; Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn; lồng ghép các vấn đề về biến đổi khí hậu, CDM vào các kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế-xã hội của các bộ, ngành, địa phương. Trong đó, chú trọng triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm như:
- Tập trung hoàn thành dự án “Việt Nam: Chuẩn bị Thông báo quốc gia lần thứ hai cho UNFCCC”.
- Tăng cường năng lực và trình độ nghiệp vụ về biến đổi khí hậu và CDM cho các nhà hoạch định chính sách ở trung ương và địa phương.
- Tăng cường hợp tác giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban Chỉ đạo thực hiện UNFCCC, Nghị định thư Kyoto và các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức và các địa phương có liên quan.
6. Tăng cường công tác hợp tác quốc tế, trong đó chú trọng hoạt động hợp tác liên quan tới biến đổi khí hậu, cảnh báo, dự báo thiên tai; tiếp tục củng cố triển khai thực hiện các hoạt động với các đối tác quốc tế Cục đã liên hệ, trao đổi, hợp tác thời gian qua.
7. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong các lĩnh vực công tác của Cục; rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo Đề án 30 của Thủ tướng Chính phủ; thử nghiệm, tiến tới đưa vào vận hành chính thức website riêng của Cục. Theo chủ trương, tất cả các thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục cùng với quy trình, thời gian giải quyết sẽ được đăng công khai trên website.
8. Triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, bao gồm:
- Tiếp tục làm việc với các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư để bổ sung vốn thực hiện Chương trình năm 2010 và các năm tiếp theo;
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cộng đồng về biến đổi khí hậu;
- Tiếp tục kêu gọi, vận động tài trợ quốc tế cho Chương trình;
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát, bao gồm cả việc xây dựng hệ thống đánh giá giám sát việc thực hiện Chương trình trong phạm vi toàn quốc.
9. Tiếp tục củng cố, hoàn thiện công tác quản lý nội bộ, trong đó tập trung đảm bảo tốt công tác kế hoạch, tài chính, công tác cán bộ, tổ chức bộ máy, triển khai thực hiện biên chế hành chính, sự nghiệp (được Bộ giao 20 biên chế sự nghiệp) và chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc Cục.
III. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ VÀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG
1. Đề xuất, kiến nghị
- Kiến nghị Lãnh đạo Bộ tiếp tục quan tâm, chỉ đạo sát sao quá trình thực hiện nhiệm vụ của Cục.
- Kiến nghị Bộ chỉ đạo các đơn vị liên quan nghiên cứu bổ sung gấp diện tích làm việc cho Cục. Hiện trạng diện tích của Cục đã quá chật hẹp, không bố trí đủ chỗ ngồi cho cán bộ, công chức, viên chức các đơn vị trực thuộc, gồm cả đối với các chuyên gia quốc tế làm việc tại Cục theo thỏa thuận trong Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với một số quốc gia có liên quan.
- Kiến nghị Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ tiếp tục phối hợp chặt chẽ, giúp đỡ Cục hoàn thành nhiệm vụ được giao.
2. Thi đua khen thưởng
Trên cơ sở đánh giá cán bộ, công chức, viên chức năm 2009 và kết luận cuộc họp của Hội đồng thi đua khen thưởng của Cục, số lượng các tập thể, cá nhân được đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường, cũng như Cục trưởng Cục Khí tượng Thuỷ văn và Biến đổi khí hậu khen thưởng cụ thể như sau:
2.1. Hình thức thi đua khen thưởng cấp Bộ (Bằng khen của Bộ trưởng):
+ Tập thể: 01 Phòng
+ Cá nhân: 2 công chức
2.2. Hình thức khen thưởng cấp Cục:
+ Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”: 5 cá nhân
+ Danh hiệu “Lao động tiên tiến”: 4 cá nhân
+ Giấy khen của Cục trưởng: 5 cá nhân
Trên đây là báo cáo kết quả công tác năm 2009 và chương trình công tác năm 2010 của Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu.